Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, Lê Ngọc Trụ

Đây là lời tựa cho cuốn sách đã nói trên tiêu đề, có vài từ Hán-Nôm tôi chưa tìm cách gõ vào được, đó là từ trữ và từ giác [hào giác] sẽ bổ sung sau.

Từ cuốn này, sẽ biết nguyên nhân vì sao một vài từ ký, lý, mỹ là y mà không là i để sau này, năm 1995, ông Hoàng Phê biên soạn lại trong cuốn “Từ điển chính tả” của ông thành i như ban đầu đã được phiên âm.

TỰA

Trong một buổi hội-hợp hoạch-định phương-pháp chánh-tả để soạn-thảo bộ “Từ-điển Bách-Khoa Việt-Nam”, ông bạn quá-cố của chúng tôi, ông Đào-Văn-Tập đã nói rất hữu-lý, đại ý như vầy:

“Các bạn miền Nam, đối với hai giọng hỏi, ngã, dẫu cố viết thế nào cũng không phát-âm đúng để phân-biệt. Chúng tôi, đồng bào Bắc, quen phát-âm một tiếng “giọng ngã” và viết với “dấu ngã”, bây giờ biểu phải viết sửa lại với “dấu hỏi” là biểu chúng tôi “nói đớt”, nó chối tai khó chịu làm sao!

“Cũng như các bạn miền Nam sẽ khó chịu mà nói đớt “Ông Chời” hay “xạch-xẽ”, thay vì “Ông Trời” “sạch- sẽ”. Như tiếng bão 菢 là “no”, tiễn là葥 “tên”, trữ  là “chứa”…theo phiên- thiết của từ-điển Trung-Hoa và theo luật ngôn-ngữ chuyển-biến, đúng lý phải viết với “dấu hỏi” (bảo, tiển, trử…) nhưng chúng tôi đã quen phát âm bằng “giọng ngã” thì khó mà nói đớt ra “giọng hỏi” để viết với “dấu hỏi” .

Thuật lại câu chuyện trên, cốt ý của chúng tôi là để giải-thích nguyên-tắc đã theo khi biên-soạn quyển tự-vị nầy: dung-hoà lý-thuyết về đại cương—mà chúng tôi đã trình-bày trong hai quyển Chánh-tả Việt-ngữ–Phần Vận và Phần Thinh (Sài-Gòn, Nam-Việt, 1954—Trường-Thi tái-bản thành một quyển, 1960)—với sự thực-hành trong chi-tiết; tuy theo tự-nguyên để quyết-định chánh-tả, nhưng tuỳ lúc, cũng giữ lối viết thông-dụng, bởi vì, như các học-giả đều công-nhận, “tập-tục là chủ-nhân-ông của ngôn-ngữ”.

Vịn theo ý đó, chúng tôi đã định phương-châm như sau, dựa theo Việt-Nam tự-điển của Hội Khai-Trí Tiến-Đức:

–Đối với những tiếng Hán-Việt thông-dụng thì giữ chánh-tả cũ, nhưng có gạch: đúng lý phải viết. Như trữ  (đúng lý trử: trư+ ngữ thiết), tiễu (trừ) (đúng lý tiểu: tử+tiểu thiết)…

-Quyển Việt-Nam tự-điển, tiêu-biểu lối phát-âm miền Bắc, là quyển tự-điển thông-dụng, nhưng lại thiếu nhiều từ-ngữ. Tự-điển Việt-Hán-Pháp (Dictionnaire Annamite-Chinois-Français) của Gustave Hue, ít phổ-biến, lại được có nhiều từ-ngữ Hán-Việt; song chánh-tả mấy từ ngữ ấy phần nhiều viết khác với lối phiên-thiết của tự-điển Trung-Hoa.

Vậy gặp trường-hợp những chữ không có trong Việt-Nam tự-điển mà Hán-Việt tự-điển Đào-Duy-Anh, hoặc tự-điển Gustave Hue viết khác lối ghi-âm của tự-điển  chữ Hán, thì chúng tôi chỉnh-đốn cho hợp lý và có cách ghi phiên-thiết làm bằng.

–Với những tiếng có nguồn-gốc rõ-rệt song bị lối viết thông-dụng lấn át, thì cũng ghi tự-nguyên của nó để mong góp vào việc sưu-tầm tự-nguyên và giúp vào sự quyết-định chánh-tả của Ban Hàn-lâm Việt-Nam sau nầy.

–Gặp trường-hợp những tiếng không có ghi trong các tự-điển mà cũng không rõ nguồn-gốc của nó, thì theo lối viết của mấy nhà văn tên tuổi. Như tiếng “Gò-Vắp”, cây “vắp”, các tự-điển không ghi, chúng tôi theo ông P. Trương-Vĩnh-Ký đã biên trong bài “Cổ Gia-Định phú” mà viết với ă: Gò Vắp.

–Còn những chữ như “cắc bạc”, “mắt kiếng”, mặc dầu Đồng âm tự-vị Nguyễn-Văn-Mai viết “cắt”, Đại-nam quấc-âm tự-vị Huình Tịnh Paulus Của viết “kiến”, chúng tôi phải sửa lại cho hợp lý, vì biết nguồn gốc của chúng nó là giác (hào giác) và kính.

–Chúng tôi theo sự quen dùng mà viết các tiếng Hán-Việt khi với i hoặc y cuối, như bi, chi, sĩ…ký, lý, mỹ…(vì các tiếng nôm đều viết với i cuối hết) chớ cách phát-âm hai nguyên-âm iy trong mấy vận nầy không có gì là khác nhau cả.

–Còn những vận quí, quít…nhờ có phụ-âm qu phân-biệt, nên cũng không sai chánh-tả, nhưng vì chúng tôi giữ đúng theo hệ-thống phát-âm các vận hợp-khẩu, như các vận huy, nguỳ, thuý, uỷ…nên chủ-trương viết quý, quýt, quỳnh…để nhứt-trí lối viết, định cho u trong các vần này là “bán-âm”, không mang dấu-giọng.

–Và cũng bởi bán-âm không mang dấu-giọng, nên trong tất cả các vận hợp-khẩu, chúng tôi đánh dấu trên nguyên-âm, như trong chữ hoà, tuỳ, uỷ…thì bỏ dấu trên chữ a, y, chớ không bỏ trên o,u.

–Các học-giả chưa đồng ý với nhau về nguyên-tắc dùng gạch-nối và chữ-hoa cho các đặc-danh.

Có vị chủ-trương bỏ hết gạch-nối trong danh-từ kép; có vị chủ-trương bỏ gạch-nối giữa họ và tên, song viết hoa tất cả các chữ đặc-danh; có vị bỏ gạch-nối giữa họ và tên, song chỉ viết hoa chữ đầu của tên hoặc họ kép; có vị dùng gạch-nối mà lại viết tiếng lót không hoa.

Chúng tôi hiểu dùng gạch-nối là để liên-kết một nhóm tiếng quanh-hệ nhau dùng chỉ một ý-niệm, một người, một vật hay một xứ. Còn chữ hoa thì để viết đặc-danh riêng của mỗi người, mỗi vật, mỗi xứ. Vì vậy, chúng tôi theo nguyên-tắc ấy mà viết, như:

ăn-mặc; đất-nước; nhà-cửa; giang-san; giỏi-giắn; rành-rẽ; hoà-bình; thạnh-vượng; tâm-lý-học; bất-hợp-pháp; Lý-Thường-Kiệt; Lê-Quý-Đôn; Phan-Bội-Châu; Sài-Gòn; Việt-Nam…

Tên ngoại-quốc phiên-âm tiếng Hán-Việt cũng viết hoa và có gạch-nối, như Cam-Địa; Nã-Phá-Luân; Ba-Lê, Nữu-Ước…Nhưng khi phiên-âm bằng tiếng nôm thì chỉ viết hoa chữ đầu thôi: Giăng-đi, Na-pô-lê-ông;Ba-ri, Nhiêu-do…

Tuy nhiên, đây chỉ là lối riêng áp-dụng trong quyển tự-vị của chúng tôi, chớ về phương-diện nầy, còn chờ cơ-quan thẩm-quyền quyết-định, như Viện Hàn-lâm Việt-Nam chẳng hạn.

–Gặp những tiếng phát-âm khác nhau vì kiêng-huý hoặc vì tập-quán như bệnh=bịnh, cục-cuộc, kiết=cát, nhân=nhơn, nhật=nhựt, sanh=sinh…chúng tôi gạnh thêm (cđ) “cũng đọc”, để giữ lối phát-âm quen dùng của mỗi vùng Nam, Bắc, chớ mấy tiếng nếu làm tiêu-đề có giải-thích và thí-dụ trong quyển nầy không có nghĩa là tiếng ấy “đúng hơn” tiếng biến-trại.

Áp dụng luật ngôn-ngữ để giải quyết chánh-tả, chúng tôi thấy về lý-thuyết thì đúng ở đại-thể, nhưng lúc thực-hành trong chi-tiết, lại gặp lắm trở-ngại, bởi vấn-đề nguồn-gốc tiếng Việt xưa nay nếu có được bàn đến, cũng chưa được học-giả tiền-bối nghiên-cứu tường-tận. Nhiều tiếng chưa rõ ắt tự-nguyên, ấy là không nói đến những tiếng mà tự-dạng âm thinh bề ngoài dễ đưa ta đến chỗ lầm-lẫn. Tiếng nói biến-thể theo những luật phát-âm còn bị ảnh-hưởng nơi luật suy-loại của sự quen dùng.

Vả lại, về tự-nguyên, chúng tôi chỉ chú-trọng phần lớn vào tiếng Hán-Việt, dựa nơi âm, nghĩa của nó mà truy-khảo; những tiếng Việt chuyển gốc hoặc tương-đương với mấy tiếng Mường, Chàm, Đồng-bào Thượng…hoặc tiếng các xứ láng-diềng, tiếng Thái, tiếng Môn-Miên, tiếng Mã-lai…vì thiếu tài-liệu đích-xác, nên không xét đến. Vì vậy, trong quyển nầy, riêng chúng tôi cũng tự thấy còn khuyết-điểm sai-lầm. Nhưng vì nhiệt-tâm với tiền-đồ ngôn-ngữ văn-tự nước nhà, chúng tôi mạo-muội cho xuất-bản, dám mong được quý ngài phủ-chánh và chỉ-giáo cho, để cùng đi lần đến sự thống-nhứt chánh-tả.

–o0o—

Chúng tôi định biên đủ các thí-dụ, khi tiếng tiêu-đề đứng trước hoặc đứng sau trong danh-từ kép, và sắp riêng những tiếng Hán-Việt để Việt-hoá khi ghép trong từ-ngữ nôm. Trong mấy năm cặm-cụi thâu-thập các từ-ngữ được trên một ngàn ba trăm trang viết tay, nhưng rốt lại, thấy rằng không làm sao góp được đủ hết, bởi nhiều thuật-ngữ được tạo thêm mãi để cung-ứng cho nhu-cầu của xã hội sanh-hoạt. Rồi đến khi định xuất-bản, một quyển tự-vị chánh-tả, in tốn-kém nhiều, phải để giá cao, thì không nhà xuất-bản nào đảm nhận. Do-dự mãi, sau cùng, để giảm bớt số trang, chúng tôi đành phải lược bỏ thí-dụ, lựa một số ít những chữ viết sai, và liệt những tiếng nôm gốc Hán-Việt mà không biến-thể vào chung với loại Hán-Việt. Ngoài ra, còn trình-bày theo một thể-thức tiện gọn: sắp kế tiếp tiêu-đề “đồng âm” với nhau, thay vì sắp đối-chiếu thành hai cột song-song: dùng chữ đứng cho những thí-dụ, khi tiếng tiêu-đề đứng trước, dùng chữ xiên, khi nó đứng sau, để bớt dùng gạch-ngang (-) thay thế tiếng tiêu-đề.

–o0o—

Thành-tựu và xuất-bản được quyển tự-vị nầy, chúng tôi nhờ những lời khuyến-khích chỉ-giáo hữu-ích của các bạn văn-hữu xa gần: nhờ Bác-sĩ Diên-Hương Trần-Ngọc-Án, ông Hội-trưởng Hội Khuyến-Học Nam-Việt Đoàn-Quan-Tấn, ông bạn quá-cố Hải-Đường Chim-Hải-Yến, và ông bạn Vương-Hồng-Sển, Giám-đốc Bảo-tàng-viện Quốc-gia, mỗi bạn hoặc săn-sóc sức khoẻ, hoặc khích-lệ tinh-thần, hoặc chỉ giúp tài-liệu; nhờ lòng sốt-sắng của bạn Phạm-Văn-Luật tiếp tay biên chép bản thảo; nhờ hai bạn Lê-Thọ-Xuân và Nguyễn-Hiến-Lê hằng nung-chí và ân-cần lo giúp quyển tự-vị nầy chóng được chào đời; và chót hết, nhờ ông bạn Đỗ-Thiếu-Lăng đọc giùm bản in, nhờ ông Nguyễn-Văn-Tư, Giám-đốc nhà xuất-bản Thanh-Tân, vì lòng hâm-mộ văn-hoá nước nhà chịu hy-sanh, ra vốn ra công, chăm lo ấn-loát trình-bày cho tác phẩm được thêm phần mỹ-thuật. Vậy xin quý bạn nhận nơi đây tấm lòng chan-chức biết ơn nồng-hậu của soạn-giả.

Sau hết, trong khi biên-soạn, cũng như khi ấn-loát trình-bày, mặc dầu cố-gắng, chúng tôi cũng không làm sao tránh khỏi những chỗ thiết-sót sai-lầm, những “vỏ ốc” sơ-suất, vậy dám mong quý vị độc giả vui lòng thể lượng cho và đính-chánh giùm, chúng tôi thật là vạn hạnh.

LÊ-NGỌC-TRỤ

(1959)

Nguồn:

Lê Ngọc Trụ (1959), Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, Saigon: Thanh-Tân.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s