những bài giới thiệu tác phẩm của Trần Đức Thảo

Ở Việt nam, theo như tôi biết, có 4 tác phẩm của ông Trần Đức Thảo được dịch ra tiếng Việt.

1.Triết –lý đã đi đến đâu-Ban đại diện S.V.P.K. Văn-học và K.H.V.N., 1971

2. Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người” – nxb Tổng hợp Thành phố, 1988

3.Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức- nxb Khoa học xã hội, 2003

4.Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng – nxb Đại học Quốc gia Hà nội, 2004

Về thời gian xuất bản các tác phẩm bằng tiếng Việt có khác với thời gian tác giả xuất bản ngoài Việt nam.

Trong bài này, tôi giới thiệu 2 bài điểm tác phẩm sau:

1.    Tác phẩm “Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức”  của André Haudricourt, đăng trên tạp chí La Pensée, 1974. Bản dịch của ông Đinh Hồng Phúc, 15.8.2008, đã đăng trên talawas.

2.    Tác phẩm “Triết lí đã đi đến đâu” (1971), bài giới thiệu của ông Nguyễn Đăng Thục, được in kèm trong tác phẩm do Ban đại diện S.V.P.K. Văn-học và K.H.V.N. ấn hành.

Với bài “Lời giới thiệu” của ông Nguyễn Đăng Thục, tôi giữ nguyên ngữ pháp tiếng Việt thời đó sử dụng.(1951)

Tôi cũng muốn giới thiệu bài viết của ông Đỗ Lai Thuý viết về cuốn “Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người” ” – nxb Tổng hợp Thành phố 1988, nhưng do ông sử dụng tác phẩm này như một công cụ phân tích văn học Việt nam gần đây, thành ra không thể sử dụng như một bài giới thiệu tác phẩm.

Hi vọng trong thời gian tới, sẽ có bài giới thiệu về 2 tác phẩm còn lại của ông Trần Đức Thảo.

1.Trần Đức Thảo: Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức.

André HAUDRICOURT

Nhà triết học người Việt này không phải là một người xa lạ đối với các độc giả của tạp chí “La Pensée”. Các bài báo được ông công bố vào những năm 1960-70 trong các số 147, 148, 149 của tạp chí của chúng ta làm nên chương đầu của công trình mà chúng tôi đang điểm.

Tôi e rằng những bài báo này sẽ không có tiếng vang mà nó xứng đáng được như thế, và cái nhan đề quá nhã nhặn của công trình có thể hạn chế sự phổ biến của nó. Cuốn sách trình bày các giai đoạn của bước chuyển từ vượn người thuộc kỷ đệ tam đến con người thuộc thời kỳ đồ đá giữa bằng cách so sánh chúng với các giai đoạn [phát triển] của trẻ em trong khoảng từ một đến sáu tuổi.

Đối với Nhân loại học, việc sử dụng quy luật tiến hóa loài lặp lại trong tiến hóa cá thể cung cấp một loạt các giả thuyết làm việc có thể được bàn luận trong từng bộ môn: Nhân loại học tự nhiên, Nhân loại học xã hội, Nhân loại học tiền sử, nhân loại học ngôn ngữ. Tuy năng lực có hạn (tôi là một nhà ngôn ngữ học về các ngôn ngữ chứ không phải là về hoạt động ngôn ngữ) nhưng tôi cố gắng tóm tắt những gì mà Trần Đức Thảo trình bày cho chúng ta.

Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn đạt được tư thế đứng thẳng giải phóng cho bàn tay, tương ứng với giai đoạn của trẻ em từ mười hai đến mười sáu tháng tuổi. Tư thế đứng thẳng làm phát triển chức năng của thanh quản (nước bọt có thể chảy vào trong các lá phổi), nó gây ra các hiện tượng đẻ non, hoạt hoá sự tiến triển bằng sinh sản ấu thể. Các vượn người thuộc giai đoạn này (vượn người nam phương) bằng các bàn tay của chúng lựa chọn những hòn sỏi có thể dùng được và giao tiếp bằng những cử chỉ chỉ dẫn tương ứng với “từ-câu”… Những đứa trẻ sơ sinh “đẻ non” không thể đeo bám lấy người mẹ, và người mẹ này phải bồng nó trong tay, khởi đầu sự phân công lao động theo giới tính ở dân du mục. Bước đi thì bằng gan bàn chân: trước hết là gót chân.

Giai đoạn tiếp theo tương ứng với các công cụ đầu tiên được gè đẽo một mặt: “Kapouen” (thời kỳ tiền sử ở Đông Phi) và tương ứng với trẻ em từ 16 đến 18 tháng tuổi.

Ngôn ngữ thuộc giai đoạn “câu giả” (pseudophrase): sự kết hợp của hai ký hiệu-từ.

Sự thay đổi của xương chậu làm cải thiện bước đi – có thể bắt đầu trước tiên với đầu mũi chân – nhưng cũng làm gia tăng tỉ lệ tử vong ở phụ nữ trong thời điểm cử sinh nở.

Sự giảm sút phụ nữ độ tuổi hôn nhân làm tăng sự khác nhau giữa những người đàn ông chiếm hữu phụ nữ và những người đàn ông chưa vợ.

Giai đoạn thứ ba tương ứng với các công cụ được gè đẽo hai mặt: “Oldovien”, với Homo habilis (Người khéo), và với trẻ em trong độ từ 20 đến 24 tháng tuổi. Hoạt động ngôn ngữ bấy giờ là những câu thực và xuất hiện sự phân biệt danh từ-động từ. Hoạt động vui chơi của những người đàn ông chưa vợ là một nhân tố quan trọng của sự tiến bộ kỹ thuật.

Giai đoạn thứ tư là giai đoạn của các công cụ được gè đẽo trên toàn bề mặt, giai đoạn của người Homo faber primigenus (Người chế tác sơ thủy – Sinanthrope, Pithécanthrope) với bước đi bình thường (đối với chúng ta), tương ứng với trẻ em 2,5 tuổi (30 tháng tuổi). Những người đàn ông chưa vợ áp đặt việc sở hữu chung phụ nữ. Đó là thời kỳ Chelléen, bắt đầu từ thời đại đá cũ thấp.

Tiếp theo sự tan rã của cộng đồng nguyên thủy, bởi sự xuất hiện của hôn nhân theo chế độ nội hôn, thuộc giai đoạn Moustérien (người Néanderthal, và homo sapiens) tương ứng với trẻ em 3 tuổi và phức cảm æudip của nó. Các tên gọi họ hàng xuất hiện trong ngôn ngữ.

Đến thời đại đồ đá cũ cao, sự cải thiện của các điều kiện sống cho phép xuất hiện những người già, trong khi sự cạnh tranh tính giao của những người trẻ tuổi bị kìm hãm bởi việc cắt da bao quy đầu (hay cắt bỏ cơ thể): chế độ nhiều vợ nhiều chồng xuất hiện. Thời đại này tương ứng với trẻ em 5 tuổi và phức cảm bị thiến của nó.

Cuối cùng đến thời đại đồ đá giữa (tương ứng với trẻ em 6 tuổi), đó là thị tộc theo chế độ ngoại hôn.

Tôi thú thật là mình không biết làm thế nào mà các sự kiện tiến hóa xã hội ở thời đại đồ đá cũ lại có thể được ghi vào di sản truyền thừa của nhân loại để nảy sinh nơi trẻ em những phức cảm bị dồn nén. Tôi hy vọng tác giả giải thích cho chúng ta chi tiết hơn về các hiện tượng này, vốn hãy còn chưa rõ ràng đối với những người không chuyên môn thuộc loại như tôi.

Đinh Hồng Phúc dịch

15.08.2008

Dịch từ: André HAUDRICOURT, 1974. “TRAN DUC THAO: Recherches sur l’origine du langage et de la conscience. Paris: Editions Sociales, 1973.” La Pensée, No 173, p. 136.

Nguồn: http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_Haudricourt.htm

2.Lời giới thiệu- Nguyễn Đăng Thục, đăng trong cuốn “Triết lý đã đi đến đâu”, 1971

Dưới nhan đề “Triết lí đã đi đến đâu?” của Thạc sĩ triết học Trần Đức Thảo (nhà xuất bản Minh Tân- Paris) tác giả muốn chứng minh sự cáo chung của Triết học Tây phương với chủ nghĩa Mác-xít.

“Chủ nghĩa mác-xít tương phản với hình thức Âu Tây, đã gặp nội dung thiết thực ở Đông phương, mà Đông phương trở nên cách mạng lại gặp trong hình thức mác-xít một cách phục hưng tinh thần cựu truyền trên lập trường nhân bản phổ biến”

(trang 55)

Chủ nghĩa Mác-xít là triết lý xã hội kinh tế, một thứ ý thức hệ của xã hội kỹ nghệ khoa học Âu-Tây tìm biện pháp để giải quyết những vấn đề xung đột nội bộ do kỹ thuật sản xuất tiến bộ quá độ đã tạo nên ở các nước tư bản đế quốc. Nhưng chủ nghĩa Mác-xít đã không chữa nổi chứng bệnh của các nước tư bản kỹ nghệ, mà lại bắt đầu thành công ở xã hội Nga là xã hội chậm tiến về kỹ nghệ, ý thức vô sản lại là ý thức của giới bán công nhân, bán nông dân. Rồi chủ nghĩa ấy tiến sang Á đông, ở Trung Hoa lục địa để gặp gở với một truyền thống triết học xã hội, chính trị, tìm nối cá nhân với nhân loại qua gia đình và quốc gia. Và hiện nay chủ nghĩa Mác-xít đã thành công hay có vẻ thành công ở lục địa Trung Hoa vì Trung Hoa đã nghiễm nhiên ngồi trong Liên hiệp quốc, thay thế cho Trung Hoa theo  chủ nghĩa “Tam dân”. Như vậy phải chăng lời tiên đoán của Thạc sĩ Trần Đức Thảo trên đây đã chính xác?

Năm xưa, ở Đại học Văn khoa Hà nội 15-11-1952 tôi có thảo luận về luận đề “Triết lí đi đến đâu” trong đó chúng tôi đứng ở quan điểm Việt nam, vừa chịu ảnh hưởng Trung hoa về triết lý xã hội vừa chịu ảnh hưởng Ấn độ về triết lí tâm linh, chúng tôi không cho rằng chủ nghĩa Mác-xít với biện chứng duy vật có thể đồng hoá với Đạo học Đông phương vì một đàng chủ trương theo danh từ của Trần đức Thảo là “Vật sinh tâm”, một đằng chủ trương cả tâm lẫn vật đều do một cái Thực tại Duy Nhất tối cao biểu hiện ra như Âm và Dương ở Vũ trụ quan Dịch: “Dịch hữu Thái cực thế sinh Lưỡng Nghi” nghĩa là “Biến-dịch ắt có cái Một tối cao cho nên mới sinh ra hai chiều Mâu-thuẫn khác nhau là Âm-Dương”. Vậy Dịch pháp cũng là Biện-chứng pháp Âm Dương nhưng không “duy tâm” hay “duy vật” mà là biện chứng pháp toàn diện để thực hiện con người nhân bản toàn diện. Con người Nhân bản toàn diện ấy không thể thiếu yếu tố tâm linh được. Yếu tố này do triết học tâm linh Ấn độ đại biểu và cống hiến vào Việt nam. Cho nên dân tộc Việt nam để giải thoát khỏi sự đồng hoá một chiều của Trung hoa đã sớm tìm thấy Biện chứng pháp toàn diện ở Thiền học Việt nam kể từ Lý Phật tử cho tới Thảo đường thời Lý Thánh Tông và Trúc lâm Yên tử thời Trần Thái Tông. Đấy là thực nghiệm tâm linh vượt lên tất cả các hệ thống trí thức, các chủ nghĩa bế quan.

Vậy Khái luận “Triết lý đã đi đến đâu” của Thạc sĩ Trần Đức Thảo đáng để anh em sinh viên Vạn Hạnh tham khảo, với tất cả lý trí phê phán của tinh thần Khoa học tìm hiểu, và anh em sẽ hiểu rằng sự “phục hưng tinh thần cựu truyền trên lập trường nhân bản phổ biến” như tác giả đã hy vọng thực là một điều thiết yếu cấp bách cho thanh niên trí thức Việt nam hiện nay, vì muốn thây hoá văn hoá ngoại lai, thì trước cần phải phản tỉnh để tự mình ý thức được mình là phần tử của một dân tộc đã có lịch sử ngàn năm là một “văn hiến chi bang” chứ không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì lên cũng được.

NGUYỄN ĐĂNG THỤC.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s